PTKT Động Lượng – giao dịch forex với đường chỉ dẫn average true range ATR ( Học Forex 247 )

PTKT Động Lượng – giao dịch forex với đường chỉ dẫn average true range ATR ( Học Forex 247 )

ATR là chỉ báo được phát triển bởi Ông Welles Wilder. ATR là dạng chỉ báo đo lường mức giao động. Cũng giống như hầu hết các công cụ chỉ báo. Ông Welles Wilder thiết kế ATR dành riêng cho hàng hóa và giao động trong ngày. ATR được phổ biến sử dung xem như là mức độ giao động, mức giới hạn khả năng có thể tăng hoặc giảm từ khi giá mở cửa của một phiên hoặc trong ngày. Điểm quan trọng là chỉ báo ATR không là chỉ báo về xu hướng, ATR chỉ là một chỉ báo về biên độ giao động.

Giới thiệu
ATR là chỉ báo được phát triển bởi Ông Welles Wilder. ATR là dạng chỉ báo đo lường mức giao động. Cũng giống như hầu hết các công cụ chỉ báo. Ông Welles Wilder thiết kế ATR dành riêng cho hàng hóa và giao động trong ngày. ATR được phổ biến sử dung xem như là mức độ giao động, mức giới hạn khả năng có thể tăng hoặc giảm từ khi giá mở cửa của một phiên hoặc trong ngày. Điểm quan trọng là chỉ báo ATR không là chỉ báo về xu hướng, ATR chỉ là một chỉ báo về biên độ giao động.
Khung giao động:
Wilder bất đầu với khái niệm “khung giao động” “True Range” gọi tắc là TR được định nghĩa theo như 3 cách tính toán:
Cách 1: Được tính từ giá cao nhất đến giá thấp nhất hiện tại
Cách 2: Tính từ giá cao nhất hiện tại đến mức giá đóng cửa của ngày hôm trước.
Cách 3: Tính từ giá thấp nhất của hiện tại đến mức giá đóng cửa của ngày hôm trước.Thiết lập chỉ số:

Với biểu đồ là ngày và chọn mức thiết lập cho ATR là 14

Mức hiện tại ATR = [(mức ATR phiên trước ATR x 13) + Mức TR hiện tại] / 14

Average True Range (ATR) – Nhóm chỉ số giao động.

ATR là chỉ báo được định nghĩa bởi ông Wilder, nó là chỉ báo về giao động và tiếp tục xu hướng vĩ đại cho mỗi phiên giao dịch khác nhau:

  • Khoảng cách giá cao nhất trong ngày đến giá thấp nhất trong ngày.
  • Khoảng cách giá đóng cửa ngày hôm qua đến giá cao nhất đến ngày hôm nay.
  • Khoảng cách giá đóng cửa ngày hôm qua đến giá thấp nhất đến ngày hôm nay.

ATR là 1 thể đơn giản của vùng trung bình giá vượt qua x-phiên (trong đó x là số phiên giao dịch do người sử dụng xác định).

Cách sử dụng

ATR có giá trị cao thường xảy ra khi thị trường bán tống các cổ phần 1 cách hỏang lọan, nó mang ý nghĩa là thị trường sẽ sụt giảm khi đa số những nhà đầu tư đều cho là mức giá này là đạt kỳ vọng và lượng người bán ra khá cao. Ngược lại ATR có giá trị thấp thường mang ý nghĩa thị trường đang trong lúc ít có vận động (sideways).

ATR có thể sử dụng kết hợp với DMI và có thể sử dụng để nhận biết điểm phá vỡ (breakout) trong 1 kênh xu hướng. Cũng có thể sử dụng kết hợp với các chỉ báo giao động khác để xác định tín hiệu mua và bán.

Theo ví dụ trên, ta sử dụng kết hợp ATR với DMI cho tín hiệu mua ở đầu tháng 11/2006. và tín hiệu bán khi ATR đang ở mức cao khi ở giai đọan giữa tháng 3. Hiện tại chúng ta thấy xu hướng chính vẫn là xu hướng xuống giá.

Xếp hạng trung bình thật sự (Average True Range – ATR)

Chức năng

Chỉ báo trung bình đúng phạm vi được phát triển bởi Welles Wilder như một công cụ để đo lường sự biến động của thị trường. Chỉ báo không dành cho việc xác định xu hướng. Khác với vùng thật sự (TR), vùng thật sự trung bình (ATR) cũng tính toán các biến động của những và những dịch chuyển hạn chế. Chỉ báo này rất hữu dụng trong việc đánh giá sự quan tâm trong trong sự dịch chuyển của thị trường, vì vậy sự di chuyển mạnh và sự đảo ngược thường kèm theo phần lớn các vùng.

Áp dụng

Giai đoạn chuẩn của chỉ báo gồm 14 ngày và được sử dụng ở biểu đồ trong ngày (hoặc hơn nữa). Giá trị thấp của chỉ báo thường tương ứng với phạm vi giao dịch, trong khi các giá trị cao nhất xuất hiện khi đột phá hoặc đảo ngược xu hướng .

Tính toán

Chỉ báo trung bình của phạm vi thật sự là sự trượt trung bình của phạm vi thật sự cho một khoảng thời gian, thường là 14 ngày. Giá trị của phạm vi thật sự được thực hiện tối đa ở các giá trị sau:

  • Khoảng cách từ mức tối đa đến mức tối thiểu trong ngày hôm nay.
  • Khoảng cách từ mức tối đa đến mức tối thiểu của ngày hôm qua.
  • Khoảng cách từ việc đóng vị trí của ngày hôm qua đến mức thấp tối thiểu của ngày hôm nay
  • Được phát triển bởi J.Welles Wilder và được giới thiệu trong sách của ông “New Concepts in Technical Trading Systems” xuất bản năm 1987, chỉ báo Khoảng dao động thực tế (ATR) đo lường độ dao động của giá cổ phiếu.

    Giới Thiệu

    Như vậy, nó không đưa ra một chỉ báo về xu hướng hay thời gian xu hướng đó tồn tại, đơn giản chỉ báo nay chỉ đo lường mức độ biến động trong chuyển động của giá.

    Như với hầu hết các chỉ báo của mình, Wilder tạo ra ATR với hàng hóa và giá hàng ngày. Vào năm 1978, giá hàng hóa thường biến động nhiều hơn giá cổ phiếu. Giá hàng hóa thường tạo ra nhiều khoảng trống và những chuyển động có giới hạn. (Một chuyển động có giới hạn xuất hiện khi hàng hóa mở cửa ở trên hoặc ở dưới mức giá lớn nhất của nó, …Kết quả là nến của ngày hôm đó (hay dạng đồ thị bar) sẽ tạo thành một giao dịch biên độ nhỏ). Để phẩn ánh chính xác độ dao động với giá hàng hóa, Wilder cố gắng giải thích cho những khoảng trống, những chuyển động có giới hạn và khoảng xếp hạng giá cao/thấp trong tính toán của ông.

    Wilder bắt đầu với khái niệm Khoảng xếp hạng thực tế (TR – True Range), chỉ báo này là giá trị lớn nhất của các giá trị sau:

    • Khoảng cách giữa mức giá cao nhất và mức giá thấp nhất ngày hiện tại.
    • Khoảng cách giữa mức giá cao nhất ngày hiện tại với giá đóng cửa ngày liền trước.
    • Khoảng cách giữa mức giá thấp nhất ngày hiện tại với giá đóng cửa ngày liền trước.

    Nếu khoảng cách giữa mức giá cao nhất thấp nhất ngày hiện tại lớn, khoảng cách đó sẽ là TR. Nếu khoảng cách giữa hai mức giá này nhỏ, TR sẽ được xác định là một trong hai cách tính còn lại. Hai cách tính sau thường được sử dụng khi giá đóng cửa ngày liền trước lớn hơn giá cao nhất ngày hiện tại (khoảng trống đi xuống hay chuyển động có giới hạn) hay giá đóng cửa ngày liền trước thấp hơn mức giá thấp nhất ngày hiện tại (khoảng trống đi lên hay một chuyển động có giới hạn). Để đảm bảo TR dương chúng ta sử dụng giá trị tuyệt đối.

    Ví dụ ở trên biểu diễn ba tình huống khi TR không được xác định dựa trên khoảng giá cao nhất/thấp nhất ngày hiện tại. Chú ý rằng tất cả ba ví dụ đều có khoảng cách giữa giá cao nhất và giá thấp nhất ngày hiện tại đều nhỏ và xuất hiện khoảng trống.

    1. Ví dụ A là trường hợp khoảng cách giữa mức giá cao nhất và thấp nhất ngày 2 nhỏ và khoảng trống đi lên. Chỉ báo TR được tính bằng giá trị tuyệt đối của sự khác biệt giữa giá cao nhất ngày thứ 2 trừ giá đóng của ngày trước đó.
    2. Ví dụ B là trường hợp khoảng cách giữa giá cao nhất và thấp nhất của ngày 2 nhỏ và xuất hiện khoảng trống đi xuống. TR được tính bằng giá trị tuyệt đối của sự khác biệt giữa giá thấp nhất của ngày 2 và giá đóng cửa ngày trước đó.
    3. Khoảng giao động giá của ngày 2 nằm bên trong khoảng giao động giá ngày trước đó và khoảng biến động giá ngày 2 khá nhỏ. Thực tế, khoảng giao động giá ngày 2 nhỏ hơn giá trị TR được tính là giá trị tuyệt đối của sự khác biệt giữa giá cao nhất ngày 2 với giá đóng cửa ngày trước đó.

    Chú ý: vì ATR biểu diễn độ dao động ở dạng giá trị tuyệt đối, cổ phiếu có giá thấp hơn sẽ có ATR nhỏ hơn ATR của cổ phiếu có giá cao. Ví dụ, cổ phiếu có giá là 10$ sẽ có ATR thấp hơn ATR của cổ phiếu có giá 20$. Chính vì điều đó, việc so sánh các giá trị ATR giữa các cổ phiếu có thể gặp khó khăn. Đối với một cổ phiếu có giá biến động nhiều như là giảm từ 70 đến 20 chẳng hạn, có thể khiến việc so sánh ATR trong dài hạn gặp khó khăn.

    Phương Pháp Tính Toán

    Chỉ báo ATR được đặt cơ sở trên 14 giai đoạn và có thể được tính toán trong ngày, theo ngày, theo tuần hay theo tháng. Ví dụ về ATR tính theo ngày sử dụng 14 giai đoạn được tính như sau: giá trị TR đầu tiên lấy bằng mức giá cao nhất trừ đi mức giá thấp nhất ngày đó, và giá trị ATR – 14 ngày đầu tiên là trung bình của 14 giá trị TR theo ngày. Sau đó Wilder làm trơn số liệu bằng cách sử dụng các giá trị ATR của kỳ trước đó. Giá trị ATR – 14 ngày thứ 2 và những giá trị tiếp theo được tính theo các bước sau:

    1. Nhân giá trị ATR – 14 ngày kỳ trước với 13
    2. Cộng vào kết quả bước một giá trị TR ngày hiện tại
    3. Chia kết quả bước hai cho 14.
    4. Trong bảng tính bên trên, giá trị TR đầu tiêu (1.9688) được tính bằng giá cao nhất trừ đi giá thấp nhất của ngày hôm đó. Giá trị ATR – 14 ngày đầu tiên (3.6646) được tính là giá trị trung bình của 14 giá trị TR đầu tiên. Giá trị ATR thứ 2 và những giá trị được làm trơn sử dụng giá trị ATR kỳ trước đó.Tuy nhiên cách tính trên cũng có một số hạn chế:
      • Giá trị đầu tiên được tính có thể không hoàn toàn chính xác với công thức. Giá trị TR đầu tiên đơn giản là được tính bằng mức giá cao nhất trừ đi mức giá thấp nhất ngày hôm đó và giá trị ATR đầu tiên là trung bình giản đơn của 14 giá trị TR đầu tiên.
      • Nhiều chỉ báo đòi hỏi quá trình làm trơn dữ liệu. Trong ví dụ trên giá trị ATR hiện tại sử dụng giá trị ATR trước đó để làm trơn.
      • Độ lớn của bộ dữ liệu sử dụng tính toán cũng ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng. Ví dụ trên chỉ gồm một khoảng dữ liệu lịch sử giá cổ phiếu không lớn. Mặc dù sự khác biệt là không lớn lắm, sử dụng khoảng thời gian là 33 ngày sẽ cho kết quả ATR khác với sử dụng khoảng thời gian là 500 ngày.
      • Vì số thập phân được làm tròn nên kết quả có thể không chính xác tuyệt đối.

      (Nếu bạn muốn tính toán ATR với dữ liệu của mình, trước hết hãy cố gắng tính toán sử dụng số liệu về giá đóng cửa, giá mở cửa, giá cao nhất, giá thấp nhất trong ví dụ bên trên. Một khi kết quả tính toán của bạn giống với kết quả của ví dụ, bạn có thể tính ATR với dữ liệu về các mức giá của cổ phiếu mà bạn muốn tính).

      Đồ thị IBM bên trên đưa ra ví dụ về ATR – 14 ngày. Những mức độ cực đỉnh (cả cao nhất và thấp nhất) có thể đánh dấu điểm đảo chiều hay bắt đầu cho một động thái. Giống như chỉ báo độ dao động – như chỉ báo Bollinger Band, ATR không thể đưa ra những dự báo về một xu hướng và thời gian xu hướng đó tồn tại. Những mức độ thấp của chỉ báo cho thấy giao dịch ảm đạm (có khoảng biến động giá nhỏ), và những mức độ cao của chỉ báo cho thấy giao dịch đang hứng phấn (khoảng biến động giá lớn) Một giai đoạn lớn mà ATR duy trì ở giá trị thấp cho thấy giá đang biến động dập dềnh và động thái đó có thể tiếp diễn hay đảo chiều. Mức độ cao của ATR thường do bởi sự tăng hay giảm đột ngột của giá và giá trị cao đó dường như không duy trì trong thời gian kéo dài.

PTKT Động Lượng – giao dịch forex với đường chỉ dẫn average true range ATR ( Học Forex 247 )

Advertisements

PTKT Động Lượng – giao dịch forex với đường chỉ dẫn Stochastic oscillator ( Học Forex 247 )

PTKT Động Lượng –  giao dịch forex với đường chỉ dẫn Stochastic oscillator ( Học Forex 247 )

Stochastic Oscillator
11/02/2009 09:50:30
Đứng ở góc nhìn của dân phân tích kĩ thuật, thị trường chứng khoán được phân thành hai loại: thị trường có xu hướng (trending market) và thị trường dao động (range-bound market). Đây là điều cơ bản nhất nhưng lại là chìa khóa để thành công trong phân tích kĩ thuật. Bởi vì loại thị trường sẽ chỉ ra nhóm công cụ kĩ thuật thích hợp nhất cho nhà đầu tư.

Đứng ở góc nhìn của dân phân tích kĩ thuật, thị trường chứng khoán được phân thành hai loại: thị trường có xu hướng (trending market) và thị trường dao động (range-bound market). Đây là điều cơ bản nhất nhưng lại là chìa khóa để thành công trong phân tích kĩ thuật. Bởi vì loại thị trường sẽ chỉ ra nhóm công cụ kĩ thuật thích hợp nhất cho nhà đầu tư.

Cùng với hai dạng thị trường là hai nhóm công cụ phân tích kĩ thuật: nhóm chỉ số dao động (oscillators) và nhóm chỉ số xu hướng (trend indicators). Các chỉ số thuộc nhóm dao động được tạo ra chủ yếu để dự báo khả năng đảo chiều. Nói cách khác, nhóm chỉ số dao động sẽ cho nhà đầu tư biết khi nào xu hướng hiện hữu của thị trường thực sự “đuối” và có khả năng quay đầu. Nhóm các chỉ số xu hướng thì được dùng để phân tích khả năng tiếp diễn hay đảo chiều của xu hướng đang diễn ra.

Một xu hướng hoặc sẽ tiếp diễn hoặc sẽ đảo chiều. Do đó, chỉ một trong hai nhóm chỉ số kĩ thuật trở nên hiệu quả trong giai đoạn nhất định. Cụ thể, khi thị trường đã tăng mạnh mẽ trong thời gian dài, các chỉ số dao động sẽ giúp nhà đầu tư dự đoán thời điểm đảo chiều và chốt lời ở mức giá tốt nhất trong khi các chỉ số xu hướng lại vẫn cho dấu hiệu tăng nên không nói lên điều gì rõ ràng.

Trong thời kì kinh tế như hiện nay, việc xác định điểm mua vào/bán ra rất được nhiều nhà đầu tư quan tâm do thị trường khó có thể tăng mạnh trong nhiều phiên liên tiếp. Ra vào đúng lúc phải dựa trên quan sát tâm lý thị trường cũng như phân tích kĩ thuật. Stochastic là một công cụ kĩ thuật khá hiệu quả hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định trên.

Stochastic Oscillator, được George Lane giới thiệu vào những năm 1950, trên cơ bản là sự so sánh giá đóng cửa hiện tại với biên độ giá cao nhất – thấp nhất trong một khoảng thời gian nhất định. Stochastic gồm có 3 loại: slow, fast và full. Do full stochastic không được sử dụng phổ biến nên không đi vào chi tiết trong bài viết này.

Stochastic gồm hai đường là %K và %D. Fast stochastic gồm “%K fast” và “%D fast”. Slow stochastic gồm “%K slow” và “%D slow”. %D được tính bằng cách lấy trung bình động ngắn hạn của %K. Quan sát các biểu đồ kĩ thuật, nhà đầu tư sẽ nhận thấy đi kèm với %K, %D là hai từ “slow” và “fast”, thể hiện độ nhạy với thay đổi giá của hai đường nói trên. Quy trình tính toán của stochastic khá phức tạp so với các chỉ số khác cùng loại. Nói một cách tổng quát, %K fast sẽ được tính đầu tiên bằng công thức dưới đây với n là số ngày giao dịch. Sau khi có được %K fast, nhà đầu tư có thể lần lượt tính toán %D fast và slow stochastic bằng công thức trung bình động (moving average).

%K và %D sẽ dao động trong khoảng 0 đến 100. Dựa trên lý thuyết mà nói, khi stochastic đạt trên 80, thị trường đã đi vào vùng mua quá (overbought).

Ngược lại, thị trường sẽ rơi vào tình trạng bán quá (oversold) khi stochastic xuống dưới mốc 20. Trên thực tế, giá vẫn có thể tiếp tục duy trì xu hướng dù stochastic đã đi vào vùng mua quá hay bán quá.

Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, nhà đầu tư nên chọn sử dụng “%K slow” của slow stochastic. Fast stochastic có khả năng đưa ra những tín hiệu sớm hơn và cũng vì vậy mà rủi ro sai lệch cũng sẽ cao hơn. Thêm vào đó, thay vì chốt lời khi stochastic đi vào vùng mua quá,
nhà đầu tư có thể chờ đến khi đường %K quay đầu đi xuống khỏi vùng này. Tương tự, nhà đầu tư sẽ mua vào khi stochastic từ dưới vùng bán quá đi lên khỏi mốc 20. Nếu nhà đầu tư tìm kiếm yếu tố khẳng định các tín hiệu trên thì có thể quan sát sự giao nhau của hai đường %K slow và %D slow.

Ngoài ra, một số quan điểm cho rằng khi stochastic giảm từ vùng mua quá xuống nhưng đột ngột quay đầu thì nhà đầu tư nên xem xét mua vào. Áp dụng cho xu hướng tăng, nhà đầu tư có thể chốt lời nếu stochastic đột ngột giảm sau khi tăng mạnh từ dưới vùng bán quá (xem hình H.1). Như đã đề cập trong các bài viết phân tích kĩ thuật trước đây, nhà đầu tư phải lưu ý yếu tố T+3 trước khi tham gia hoặc thoát ra thị trường đang tăng/giảm mạnh. Stochastic đảo chiều đột ngột nhưng liệu giá đóng cửa T+4 có cao hơn giá mua vào hiện tại?

Phân tích kĩ thuật là quá trình tổng hợp dữ liệu lịch sử để dự báo các khả năng trong tương lai mà chưa có yếu tố con người. Vì vậy, nhà đầu tư cần kết hợp các tín hiệu kỹ thuật với sự am hiểu thị trường để đưa ra quyết định chính xác nhất.

Một Oscillator là một đối tượng hay dữ liệu di chuyển qua lai giữa 2 điểm. Nói một cách khác, nó luôn dao động tại 1 điểm nào đó giữa điểm A và B. Cụ thể hơn một oscillator sẽ thường cho tín hiệu mua hoặc bán chỉ trừ khi thị trường dao đông không rõ ràng.

Bạn thấy quen phải không? Chắc chắn rồi, Stochastic, Parabolic SAR và Relative Strength Index (RSI) là những Oscillators. Những indicator này đều được thiết lập để cho tín hiệu của đảo chiều, với mà xu hướng trước đó đã bị suy yếu và giá sẵn sang để đổi hướng.

Hãy làm một ví dụ. Chúng ta gắn cả 3 oscillators vào cặp GBP/USD biểu đồ daily. Bạn có thể thấy cả ba chỉ báo cho tín hiệu mua vào cuối tháng 12, và giá tăng 400 pips.

leading-indicators-right

Sau đó, trong suốt tuần thứ 3 của tháng 1, Stochastic, Parabolic SAR và RSI đều đưa ra tín hiệu bán. Và 3 tháng tiếp theo, giá đã xuống khoảng 1000 pips . Vào giữa tháng 4, tất cả oscillator cho tín hiệu bán và giá đã tiếp tục xuống mạnh.

Tuy vậy, cũng có khi leading indicator không rõ ràng, và bạn cũng hiểu rằng những tín hiệu này không phải là hoàn hảo.

Trong hình tiếp theo bên dưới, bạn có thể thấy rằng indicator cho những tín hiệu xung đột lẫn nhau. Ví dụ, Parabolic SAR đưa tín hiệu bán ở giữa tháng 2 trong khi Stochastic lại thể hiện tín hiệu ngược lại, còn RSI thì chưa cho tín hiệu mua hoặc bán nào.

leading-indicators-wrong4

Nhìn vào hình trên bạn có thể thấy có nhiều tín hiệu sai lệch. Cụ thể trong tuần thứ 2 của tháng 4, cả 2 Stochastic và RSI cho tín hiệu bán trong khi Parabolic SAR đã không cho tín hiệu. Giá tiếp tục tăng. Hoặc vào giữa tháng 5 khi có sự xung đột giữa Parabolic SAR và Stochastic , RSI.

Nếu bạn nhận được một tín hiệu hỗn hợp như vậy, bạn nên xem xét dựa vào chiến lược giao dịch để đưa ra quyết định và nếu các điều kiện vào lệnh không được đáp ứng, tốt nhất là bạn nên chờ đợi một cơ hội khác.

CHỈ SỐ DAO ĐỘNG STOCHASTIC

(STOCHASTIC OSCILLATOR)

Tổng quan

Chỉ số dao động Stochastic cho ta so sánh giá một chứng khoán đóng cửa với khoảng giá của nó trong một thời gian xác định.

Giải thích

Chỉ số dao động Stochastic được thể hiện thành 2 đường. Đường chính được gọi là “%K”. Đường thứ hai được gọi là “%D” là trung bình trượt của “%K”.

Có một số cách để giải nghĩa chỉ báo Stochastic. Ba phương pháp phổ biến là:

  1. Mua khi Stochastic (cả %K hoặc %D) xuống dưới một mức nhất định (ví dụ:20) và rồi tăng lên trên mức đó. Bán khi Stochastic tăng lên trên một mức nhất định (ví dụ: 80) và rồi rơi xuống dưới mức đó.
  2. Mua khi đường %K lên trên đường %D và bán khi đường %K rơi xuống dưới đường %D.
  3. Tìm kiếm các phân kì. Ví dụ, khi giá đang hình thành các mức giá cao mới trong khi Stochastic đang rơi xuống thấp hơn, báo hiệu sắp có khả năng đảo chiều giảm gía.

Ví dụ

Đồ thị dưới đây là KDC và chỉ số dao động Stochastic 14 ngày của nó.

Mũi tên “mua” được vẽ ra khi đường %K đi xuống dưới và rồi lên trên mức 20. Tương tự, mũi tên “bán” được vẽ ra khi đường %K lên trên và rồi lại xuống dưới mức 80.

Tính toán

Chỉ số dao động Stochastic có 4 biến:

  1. 1.      Các thời kì %K.

Đây là số thời kì thời gian được sử dụng trong cách tính Stochastic.

  1. 2.      Các thời kì chậm %K .

Giá trị này kiểm soát quá trình làm trơn của %K. Giá trị 1 được thừa nhận là Stochastic nhanh và giá trị 3 được thừa nhận là Stochastic chậm.

  1. 3.      Các thời kì %D .

Đây là số các thời kì được sử dụng khi tính trung bình trượt của %K. Trung bình trượt được gọi là “%D” và được vẽ ngay trên đồ thị của %K.

  1. 4.      Phương pháp tính %D .

Phương pháp (ví dụ: mũ, giản đơn, theo chuỗi thời gian, tam giác, biến đổi, hoặc tỷ trọng) được sử dụng để tính %D.

Công thức tính  %K là:

Ví dụ, để tính %K 10 ngày, đầu tiên phải tìm ra giá cao nhất và giá thấp nhất trong vòng 10 ngày của chứng khoán. Vì là ví dụ, sẽ giả định rằng trong 10 ngày mức giá cao nhất là 46 và mức giá thấp nhất là 38 – khoảng giá là 8 điểm. Nếu giá đóng cửa ngày hôm nay là 41, %K được tính là:

37.5% trong ví dụ cho biết rằng giá đóng cửa ngày hôm nay ở mức 37.5% trong khoảng giao dịch của chứng khoán trong 10 ngày. Nếu giá đóng cửa hôm nay là 42, chỉ báo Stochastic sẽ là 50%. Điều này có nghĩa là chứng khoán đóng cửa hôm nay ở 50% hoặc là điểm giữa của khoảng giao dịch 10 ngày.

Ví dụ trên sử dụng %K chậm của 1 ngày (tức là không chậm). Nếu bạn sử dụng giá trị lớn hơn 1, bạn sẽ tìm giá trị trung bình của giá cao nhất và giá thấp nhất trong khoảng thời kì của %K chậm trước khi thực hiện phép chia.

Trung bình trượt của %K rồi được tính bằng cách sử dụng số thời kì xác định trong các thời kì %D. Trung bình trượt được gọi là %D.

Chỉ báo Stochastic thường giao động trong khoảng 0 đến 100. Giá trị của 0% cho thấy rằng giá đóng cửa của chứng khoán là mức giá thấp nhất mà chứng khoán đã giao dịch trong x- thời kì trước đó. Giá trị 100% cho thấy rằng chứng khoán đóng cửa ở mức giá cao nhất mà chứng khoán đó đã giao dịch trong x- thời kì trước đó.

1. Khái niệm chỉ báo Stochastic

Chỉ báo Stochastic được phát triển bởi Tiến sỹ George Lane dùng để theo dõi xung lượng thị trường.

Chỉ báo này bao gồm 2 đường:

– Đường % K so sánh giá đóng cửa gần nhất với biên độ giao dịch gần đây.

– Đường %D là đường tín hiệu được tính bằng giá trị %K mượt (smooth).

Số kỳ được sử dụng trong chỉ báo này có thể khác nhau theo mục đích mà chỉ báo Stochastic được sử dụng:


2. Công thức tính Stochastic:

1. Bước đầu tiên là xác định số kỳ (kỳ %K). Kỳ tiêu chuẩn là 5 (ngày) nhưng con số này cần dựa trên khung thời gian phân tích.

2. Bước thứ hai là tính %K, bằng cách so sánh giá đóng cửa gần nhất với biên độ giao dịch qua kỳ đã chọn:

CL = Giá đóng cửa (Close) hôm nay – Giá thấp nhất (Low) thấp nhất trong kỳ %K Lowest Low

HL = Giá cao nhất (High) cao nhất trong kỳ %K – Giá thấp nhất (Low) thấp nhất trong kỳ %K

%K = CL / HL *100

3. Bước thứ ba là tính %D bằng %K mượt. Công thức gốc sử dụng đường SMA 3 nhưng phép tính này có thể khác nhau dựa trên khung thời gian phân tích khác nhau.

3. Thiết lập thông số:

Thông số mặc định của chỉ báo Stochastic được thiết lập như sau:

•%K – 5 (ngày…)

•%D – 3 (ngày…)

• Cả 2 giá trị trên được tính sử dụng đường trung bình động giản đơn (SMA).

• mức siêu mua 70%

• mức siêu bán 30%

4. Tín hiệu giao dịch:

Nếu Stochastic đến gần mức 100 thì nó báo hiệu sự tích lũy của thị trường. Nếu nó đi xuống gần mức 0 thì nó báo hiệu sự phân phối của thị trường.

Stochastic có dạng đáy cho thấy khả năng phục hồi của giá. Một dạng đáy hẹp nhưng không sâu cho thấy nhà đầu cơ giá lên yếu ớt và theo sau đó là đà tăng giá mạnh. Một dạng đáy rộng và sâu cho thấy nhà đầu cơ giá xuống mạnh và khả năng đà tăng sẽ yếu.

Tương tự đối với Stochastic có dạng đỉnh hẹp thường cho thấy nhà đầu cơ giá lên yếu và khả năng điều chỉnh khả thi. Các dạng đỉnh cao và rộng thì cho thấy nhà đầu cơ giá lên mạnh và khả năng điều chỉnh ở mức yếu.

a. Đối với thị trường không rõ xu hướng:

Các tín hiệu giao dịch được liệt kê theo mức độ quan trọng của chúng:

* Tín hiệu mua:

1. Mua khi có sự phân kỳ tăng giá đối với đường %D tại đó phần đáy đầu tiên nằm dưới mức siêu bán.

2. Mua khi đường %K hoặc đường %D giảm xuống dưới mức siêu bán rồi tăng trở lại trên mức đó.

3. Mua khi đường %K cắt lên trên đường %D.


* Tín hiệu bán:

1. Bán khi có sự phân kỳ giảm giá đối với đường %D tại đó phần đỉnh đầu tiên nằm trên vùng siêu mua.

2. Bán khi đường %K hoặc đường %D tăng lên trên mức siêu mua rồi giảm trở lại dưới mức đó.

3. Bán khi đường %K cắt xuống dưới đường %D.

Đặt dừng lỗ dưới mức đáy gần nhất của giá khi vào lệnh mua hoặc trên mức đỉnh gần nhất khi vào lệnh bán.

Các đường %K và %D chạy theo cùng hướng được sử dụng để xác nhận xu hướng ngắn hạn.

b. Đối với thị trường có xu hướng rõ ràng:

Chỉ sử dụng các tín hiệu theo hướng của xu hướng thị trường và không bao giờ mua khi Stochastic ở vùng siêu mua hoặc bán khi Stochastic ở vùng siêu bán.
Mua khi %K hoặc %D giảm xuống dưới đường siêu bán và bán khi %K hoặc %D tăng lên trên đường siêu mua.

PTKT Động Lượng –  giao dịch forex với đường chỉ dẫn Stochastic oscillator ( Học Forex 247 )

PTKT Động Lượng – Hệ thống giao dịch Ichimoku kinko hyo ( Học Forex 247 )

PTKT Động Lượng – Hệ thống giao dịch Ichimoku kinko hyo ( Học Forex 247 )

TỔNG QUAN VỀ ĐỒ THỊ ICHIMOKU KINKO HYO

1. Giới thiệu
– Ichimoku Kinko Hyo là một kỹ thuật đồ thị được tạo ra trước thế chiến thứ 2 bởi 1 phóng viên người Nhật là Goichi Hosoda, đã nhanh chóng trở thành công cụ khá phổ thông cho các nhà đầu tư Nhật, không chỉ riêng cho thị trường cổ phiếu mà nó còn được sử dụng cho currency, bond, futures, commodity và options markets cũng rất tốt. Đây là 1 kỹ thuật được công bố cách đây 30 năm nhưng trong những năm gần đấy mới thật sự gây được chú ý bởi lợi ích mà nó đem lại.
– Ichimoku Kinko Hyo có nghĩa là “Cái nhìn thóang qua về sự cân bằng của đồ thị giữa giá và thời gian”, phác hoạ lại diễn biến của giá trên biểu đồ một cách trực quan giúp các Trader có một cái nhìn sâu sắc hơn, toàn diện hơn vào hành động giá để nhanh chóng xác định xu thế sắp tới và thời điểm thích hợp để ra/vào thị trường. Đây là chỉ báo độc lập không cần sự giúp đỡ của các kỹ thuật phân tích nào khác.
2.Cấu tạo

Đồ thị Ichimoku gồm có 5 đường. trong đó có đến 4 đường được tính đơn giản bằng cách lấy trung bình giá cao nhất và giá thấp nhất.
1. Tenkan-Sen = Conversion Line = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 9 phiên
2. Kijun-Sen = Base Line = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 26 phiên
3. Chikou Span = Lagging Span = Giá đóng cửa hôm nay, được vẽ cho 26 phiên sau
4. Senkou Span A = Leading Span A = (Tenkan-Sen + Kijun-Sen) / 2, được vẽ cho 26 phiên đầu
5. Senkou Span B = Leading Span B = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 52 phiên, được vẽ cho 26 phiên đầu.
Ngoài ra, khoảng cách giữa hai đường Leading Span A và B được gọi là “Kumo” hay “Cloud”.
Ichimoku sử dụng 3 phiên chủ yếu theo chuẩn: 9, 26 và 52. Khi xưa Ichimoku được tạo ra (vào năm 1930) lúc đó 1 tuần giao dịch 6 ngày và chuẩn được chọn tương ứng là: 1tuần rưỡi, 1 tháng và 2 tháng. Nhưng bây giờ 1 tuần hiện chỉ giao dịch có 5 ngày thì chuẩn được chọn thay đổi tương ứng là: 7, 22 và 44 phiên.

Công cụ Ichimoku Kinko

1. Tenkan Sen : đường tín hiệu

Tenkan-Sen = Conversion Line = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 9 phiên
Trong khi nhiều người xem Tekan Sen như một đường trung bình đơn giản SMA9 của giá đóng cửa, thì thực ra nó lại được tính toán dựa trên tỷ lệ trung bình của giá cao nhất và thấp nhất cho 9 phiên.
Xem xét biểu đồ dưới đây:

Hình 1 – Tenkan Sen vs. 9 Period SMA

Như có thể thấy trên biểu đồ, Tekan Sen thường “Flat” hơn so với SMA9. Thực tế này là bởi vì Tekan Sen được tính theo trung bình của giá cao nhất và thấp nhất chứ không phải trung bình của giá đóng cửa.
Ngoài ra, Tekan Sen cũng cho nhiều mức hỗ trợ vững chắc hơn so với SMA9 : tại vùng đánh dấu ( màu vàng ), giá không vượt qua được Tekan Sen trong khi nó đã phá vỡ và xuyên qua SMA9.
Trong một xu hướng giảm giá, Tekan Sen sẽ đóng vai trò như một mức kháng cự.
Các góc của Tekan Sen ( so với giá ) cũng có thể cho chúng ta một ý tưởng :  Một Tekan Sen dốc góc cạnh sẽ cho biết giá tăng gần như thẳng đứng trong một thời gian ngắn hoặc động lực mạnh mẽ, trong khi một Tekan Sen phẳng ( Flat Tekan Sen ) sẽ cho biết động lực thấp hoặc không có động lực khoảng thời gian tương tự.
Tekan Sen đo lường biến động giá trong một xu hướng ngắn hạn, và cho tín hiệu sớm nhất nên cũng vì vậy mà nó kém tin cậy nhất trong 5 đường của hệ thống Ichimoku. Tuy nhiên, khi giá vi phạm Tekan Sen có thể cho một dấu hiệu ban đầu của một sự thay đổi xu hướng, dù vậy, giống như tất cả các tín hiệu khác, điều này cần phải được xác nhận bởi các thành phần khác trước khi đưa ra quyết định kinh doanh.
Một trong những ứng dụng chính của Tekan Sen chính là sự giao cắt của nó qua Kijun Sen.
Nếu Tekan Sen cắt Kijun Sen từ dưới lên, thì đó là một tín hiệu tăng giá. Tương tự, nếu Tekan Sen cắt Kijun Sen từ trên xuống, đó là một tín hiệu giảm giá.

2.Kijun Sen : đường xu hướng

Kijun-Sen = Base Line = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 26 phiên
Kijun Sen là một chỉ báo rất quan trọng trong hệ thống Ichimoku và nó có rất nhiều ứng dụng. Giống như Tekan Sen, Kijun Sen được tính dựa trên trung bình của giá cao nhất và thấp nhất, nhưng cho 26 phiên (khung thời gian dài hơn). Do vậy, Kijun Sen cũng mang tất cả các tính chất của Tekan Sen.
Ngoài ra, do được tính trên một khoảng thời gian dài hơn, nên tín hiệu được cho bởi Kijun Sen trở nên vững chắc và đáng tin cậy hơn so với Tekan Sen .
Một khi giá vượt quá một trong hai điểm cao nhất hoặc thấp nhất ( trong 26 phiên ), Kijun Sen sẽ phản ánh bằng cách câu lên hoặc xuống tương ứng. Như vậy, xu hướng ngắn hạn có thể được xác định bởi hướng của Kijun Sen. Ngoài ra, các góc độ tương đối của Kijun Sen ( so với đường giá ) sẽ cho biết sức mạnh hay động lực của xu hướng này.
Sự cân bằng về giá được thể hiện bởi Kijun Sen trên biểu đồ cũng chính xác hơn so với Tekan Sen. Do đó, các mức hỗ trợ và kháng cự được cho bởi Kijun Sen cũng đáng tin cậy hơn (xem những vùng được đánh dấu trong hình II dưới đây).

Hình 2 – Kijun Sen Support

Khi giá di chuyển quá xa và quá nhanh trong một thời gian ngắn ( mất cân bằng ) , nó có khuynh hướng quay trở lại Kijun Sen. Do đó, Kijun Sen được ví như “ trung tâm của lực hấp dẫn “ – thu hút giá về chính nó và đưa giá trở lại trạng thái cân bằng.
Hiện tượng này đặc biệt rõ ràng khi Kijun Sen là phẳng ( Flat ) hoặc trendless, như có thể thấy trong hình III dưới đây:

3. Chikou Span: đường trễ

Chikou Span = Lagging Span = Giá đóng cửa hôm nay, được vẽ cho 26 phiên sau
Chikou Span đại diện cho một trong những tính năng độc đáo nhất của hệ thống Ichimoku, biểu thị giá đóng cửa hiện tại là thời gian chuyển dịch ngược về 26 phiên đã qua – cho chúng ta một cái nhìn toàn diện hơn về hành động giá, có thể giúp xác định xu hướng sắp tới.
Nếu giá đóng cửa hiện tại ( được mô tả bởi Chikou Span ) thấp hơn so với giá của 26 phiên trước đây, nhiều khả năng giá sẽ giảm.
Ngược lại, nếu giá đóng cửa hiện tại cao hơn mức giá của 26 phiên trước đây, nhiều khả năng giá sẽ tăng.
Xem xét các biểu đồ trong hình IV và V dưới đây:

Hình 4 : Chikou Span trong một xu hướng tăng giá
Hình 5 : Chikou Span trong một xu hướng giảm giá

Ngoài việc cho chúng ta xác định các khả năng tăng/giảm của giá, Chikou Span cũng cung cấp các mức độ hỗ trợ và kháng cự ( có thể vẽ đường nằm ngang qua điểm được tạo ra bởi Chikou Span để xem các cấp chính và sử dụng chúng trong phân tích )
Xem hình VI dưới đây:

Hình 6 : Các mức hỗ trợ và kháng cự được cho bởi Chikou Span

4. Senkou Span A

Senkou Span A = Leading Span A = (Tenkan-Sen + Kijun-Sen) / 2, được vẽ cho 26 phiên đầu
Senkou Span A là thành phần nổi bật nhất, cùng với Senkou Span B tạo thành mây “ Kumo “ hay còn gọi là “ Ichimoku Cloud “ – nền tảng của hệ thống Ichimoku.
Senkou Span A được tính toán dựa trên tỉ lệ trung bình của Tekan Sen và Kijun Sen ( trong 26 phiên ) và được thể hiện trên biểu đồ bằng cách chuyển dịch về phía trước 26 phiên.

Giá cả có xu hướng tôn trọng các mức hỗ trợ và kháng cự, như vậy, việc biểu diễn ( vẽ ) Senkou Span A bằng cách chuyển dịch về phía trước 26 phiên sẽ giúp chúng ta nhanh chóng nhìn thấy các mức hỗ trợ và kháng cự từ 26 phiên trước (1 tháng cách đây trên một biểu đồ hàng ngày) so với giá hiện tại.

5. Senkou Span B

Senkou Span B = Leading Span B = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 52 phiên, được vẽ cho 26 phiên đầu.
Senkou Span B cũng là thành phần nổi bật nhất, cùng với Senkou Span A tạo thành mây “ Kumo “ hay còn gọi là “ Ichimoku Cloud “ – nền tảng của hệ thống Ichimoku.
Senkou Span B đại diện cho một cái nhìn dài hạn nhất về trạng thái cân bằng của giá trong hệ thống Ichimoku. Thay vì chỉ xem xét 26 phiên cuối ( 1 tháng cuối ) dựa trên trung bình của Tekan Sen và Kijun Sen ( Senkou Span A ), Senkou Span B được tính toán dựa trên trung bình của giá cao nhất và thấp nhất của 52 phiên ( 2 tháng cuối ) , được biểu diễn ( vẽ ) trên biểu đồ bằng cách chuyển dịch về phía trước 26 phiên, như Senkou Span A. Điều này sẽ giúp các nhà đầu tư có được một cái nhìn toàn diện hơn về sự cân bằng của giá, giúp họ xác định các chiến lược kinh doanh tương lai.

Kumo cloud

1. Giới thiệu

Kumo là trái tim và linh hồn của hệ thống Ichimoku, cho phép ta gần như ngay lập tức có thể thấy được một bức tranh toàn cảnh về xu hướng của thị trường và mối quan hệ giữa giá với xu hướng đó.
Kumo cũng là một thành phần độc đáo nhất trong hệ thống Ichimoku, vì nó cung cấp một cái nhìn đa chiều ( đa điểm ) về các mức hỗ trợ và kháng cự trong một khu vực mở rộng; trái ngược với các hệ thống khác, nơi các mức hỗ trợ và kháng cự chỉ đơn thuần là một điểm duy nhất trên biểu đồ.
Kumo được cấu thành bởi 2 đường là Senkou Span A và Senkou Span B, trong đó mỗi đường lại cung cấp cho ta một cái nhìn toàn cảnh về sự cân bằng giá cũng như các cấp độ hỗ trợ và kháng cự trong một thời gian dài.
Kumo – một vùng không gian mà khi giá lọt vào trong nó ( nơi mức giá cân bằng – thị trường gần như không có xu hướng rõ ràng ) có thể làm cho hành động giá không thể đoán trước được. Việc giao dịch trong vùng này là rất mạo hiểm.

2. Hỗ trợ và kháng cự

Như đã nói ở trên, một trong những tính năng rất độc đáo của Kumo là cung cấp các mức hỗ trợ và kháng cự đáng tin cậy hơn so với những hệ thống khác. Như có thể thấy trong biểu đồ dưới đây ( Hình 1 ) cho USD/CAD, nơi giá đã tìm đến các mức S & R trên 5 lần nhưng vẫn không thể phá vỡ được trong khoảng thời gian 30 ngày.

Sức mạnh của Kumo trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta so sánh các mức hỗ trợ và kháng cự truyền thống ( trendline ) với các mức hỗ trợ và kháng cự được cho bởi Kumo.
Trong biểu đồ ( hình 2 ) dưới đây, chúng tôi đã vẽ một Down Trend truyền thống A và một kháng cự truyền thống B ( tại giá 1.1867 ). Khi giá phá vỡ và đóng cửa trên 2 đường này, những Trader giao dịch theo trường phái Breakout nhiều khả năng sẽ đặt một lệnh Buy ngay tại đây ( điểm C ). Nhưng những Trader sử dụng Ichimoku sẽ nhìn vào vị trí của giá ngay mép dưới của Kumo và dễ dàng nhận ra rằng, sẽ là cực kỳ mạo hiểm cho một lệnh Buy tại vị trí này – một vị trí mà giá đã gặp phải một kháng cự mạnh từ Kumo.

Hình 2

Thật vậy, giá đã giảm khoảng 250 pips sau đó trước khi qua đầu. Đối với những Trader có tài khoản nhỏ thì đây sẽ là một thất bại khá nặng nề.
Và, lại một lần nữa, giá phá vỡ và đóng cửa trên mức kháng cự B. Đối với nhiều Trader có thể đây là một cơ hội khác để vào một lệnh Buy tại điểm D, nhưng với những Trader sử dụng Ichimoku sẽ thấy rằng : thật ra giá vẫn nằm trong Kumo, và đây là khu vực nhạy cảm, không có gì là chắc chắn để thực hiện một giao dịch. Họ cũng nhận thức được rằng, ranh giới trên của Kumo ( điểm E ), đường Senkou Span B có thể là một mức kháng cự đáng kể, do đó, họ sẽ đứng ngoài và chờ đợi một cơ hội tốt hơn.
Nhìn mà xem, sau khi gặp ranh giới Kumo và giảm khiêm tốn khoảng 50 pips, giá đã lao dốc và trượt dài một đoạn gần 500 pips.

3. Mối quan hệ giữa giá và Kumo

Về cơ bản :
– Giá trên Kumo ( giá hiện tại cao hơn mức giá trung bình trong quá khứ ) => giá có thể tăng
– Giá dưới Kumo ( giá hiện tại thấp hơn mức giá trung bình trong quá khứ ) => giá có thể giảm
– Giá trong Kumo => thị trường không có xu hướng rõ ràng / sideway trong biên độ Kumo.
Nhà đầu tư không nên thực hiện bất kỳ một giao dịch nào vào lúc này, mà hãy chờ đợi cho đến khi giá đóng cửa trên hoặc dưới Kumo.

4. Quan hệ giữa Senkou Span A & Senkou Span B của Kumo

Kumo được tạo thành từ 2 đường Senkou Span A và Senkou Span B, do vậy, ngoài mối quan hệ giữa giá và Kumo, tự bên trong Kumo còn một mối quan hệ khác nữa là quan hệ giữa 2 đường cấu thành nên nó :

– Nếu Senkou A nằm trên Senkou B : giá có thể tăng
– Nếu Senkou A nằm dưới Senkou B : giá có thể giảm
– Nếu Senkou A và Senkou B hoán đổi vị trí cho nhau => xu hướng cũng có thể thay đổi.
* Một cách diễn giải khác :
– Nếu Senkou A cắt Senkou B từ dưới lên : giá có thể tăng
– Nếu Senkou A cắt Senkou B từ trên xuống : giá có thể giảm
Tính chất này sẽ được nói rõ hơn ở phần 5 : Chiến lược kinh doanh Ichimoku

5. Độ dày ( chiều sâu) của Kumo

Khi nghiên cứu một biểu đồ Ichimoku, bạn sẽ thấy độ sâu hoặc độ dày của Kumo có thể thay đổi liên tục. Độ dày của Kumo là một dấu hiệu của thị trường bất ổn: với một Kumo dày cho thấy giá trong lịch sử biến động cao hơn và Kumo mỏng chỉ một biến động thấp hơn.
ð Độ sâu ( độ dày ) của Kumo là thước đo của biến động giá.
Mặt khác, Kumo càng dày sẽ cho các mức hỗ trợ và kháng cự càng vững chắc. Đây là một tính chất đặc biệt hữu ích của Kumo, để từ đó, các nhà đầu tư có thể dễ dàng hơn trong việc quản lý rủi ro, xác định các mức cản cũng như các mục tiêu dừng lỗ, chốt lời dựa vào 2 biên của Kumo.

6. Kumo phẳng ( Flat Top/Bottom Kumo )

Phẳng trên hoặc phẳng dưới ( flat top/bottom ) là hiện tượng thường được quan sát ở Kumo. Cũng giống như “ hiệu ứng dây thun “ mà một Flat Kijun Sen có thể gây ra với giá, một Flat Senkou Span B cũng có tính chất tương tự. Điều này là bởi vì Senkou Span B chính là đường trung bình của giá cao nhất và thấp nhất qua 52 thời kỳ – nơi mức giá cân bằng.
Từ khi giá cả luôn luôn có khuynh hướng tìm cách quay trở lại trạng thái cân bằng, Flat Senkou Span B đại diện cho một lực hấp dẫn mạnh mẽ, thu hút giá về gần nó hơn.
Trong một xu hướng tăng, việc Senkou Span B flat sẽ dẫn đến một flat bottom Kumo. Ngược lại, trong một xu hướng giảm, việc Senkou Span B flat sẽ dẫn đến một flat top Kumo. Điều này sẽ rất có ích cho các nhà đầu tư giúp họ có thể dự đoán được xu thế giá cả sắp tới để có thể xác định điểm vào hợp lý.

Chiến lược giao dịch

Trước khi đi vào chi tiết sử dụng hệ thống Ichimoku để đưa ra chiến lược giao dịch hiệu quả và giảm thiểu tối đa rủi ro, chúng tôi xin lưu ý các bạn rằng : Ichimoku Kinko Hyo là một hệ thống lớn khá phức tạp, cấu tạo bởi 5 thành phần, trong đó, mỗi thành phần đóng vai trò như một “tiểu hệ thống” trong một hệ thống lớn, có quan hệ mật thiết và không thể tách rời. Do vậy, trước khi đưa ra một chiến lược giao dịch cụ thể, cần phải có sự thống nhất của tất cả các thành phần thuộc hệ thống Ichimoku.

Chúng tôi yêu cầu bạn luôn ghi nhớ điều này khi sử dụng các chiến lược.

1. Tenkan Sen/Kijun Sen cắt nhau

Sự giao cắt giữa Tekan Sen và Kijun Sen là một trong những chiến lược giao dịch truyền thống nhất trong hệ thống Ichimoku Kinko Hyo. Nếu Tekan Sen cắt Kijun Sen từ dưới lên, đó là tín hiệu tăng giá. Ngược lại, nếu Tekan Sen cắt Kijun Sen từ trên xuống, đó là một tín hiệu giảm giá.
Giống như tất cả các chiến lược khác trong hệ thống Ichimoku, tín hiêu được cho bởi sự giao cắt giữa Tekan Sen và Kijun Sen cần có sự xác nhận ( thống nhất ) từ các thành phần khác của hệ thống.
Nhìn chung, cường độ của tín hiệu có thể được phân thành ba loại chính: mạnh mẽ, trung bình và yếu.
* Tín hiệu mạnh:
– BUY : Tekan Sen cắt Kijun Sen từ dưới lên và vị trí giao cắt phía trên Kumo
– SELL : Tekan Sen cắt Kijun Sen từ trên xuống và vị trí giao cắt dưới Kumo
* Tín hiệu trung bình :
– BUY : Tekan Sen cắt Kijun Sen từ dưới lên và vị trí giao cắt phía trong Kumo
– SELL : Tekan Sen cắt Kijun Sen từ trên xuống và vị trí giao cắt trong Kumo
* Tín hiệu yếu:
– BUY : Tekan Sen cắt Kijun Sen từ dưới lên và vị trí giao cắt phía dưới Kumo
– SELL : Tekan Sen cắt Kijun Sen từ trên xuống và vị trí giao cắt trên Kumo

Như đã nói ở trên, các tín hiệu cần sự thống nhất của tất cả các thành phần, và trong trường hợp này, Chikou Span đóng vai trò để xác nhận tín hiệu :
– Nếu sự giao cắt là tăng giá và Chikou Span phía trên đường giá tại thời điểm đó, thì đây là tín hiệu tăng mạnh.
– Nếu sự giao cắt là giảm giá và Chikou Span phía dưới đường giá tại thời điểm đó, thì đây là tín hiệu giảm mạnh.
– Nếu vị trí giao cắt nằm đối diện với Chikou Span qua đường giá thì đây là một tín hiệu ( tăng/giảm ) yếu.
A. Mở giao dịch
Mở giao dịch ngay tại vị trí giao cắt. Tuy nhiên cần để ý các mức hỗ trợ/ kháng cứ gần đó và chỉ nên vào lệnh ở phía trên/dưới ngưỡng đó ( nếu có ).
B.Đóng giao dịch
Vị trí đóng giao dịch phụ thuộc vào diễn biến cụ thể trên biểu đồ. Thông thường nên đóng giao dịch khi Tekan/Kijun cắt nhau theo hướng ngược lại, tuy nhiên, cần kết hợp với kỹ năng quản lý vốn hoặc có thể xem xét các time-frame khác để thoát sớm hơn, hoặc có tín hiệu khác bất lợi.
C.Điểm dừng lỗ
Xem xét các ngưỡng hỗ trợ/kháng cự qua các time-frame và qui tắc quản lý vốn để xác định điểm dừng lỗ.
D.Điểm chốt lời
Khi Tekan/Kijun cắt nhau theo hướng ngược lại hoặc khi đã đạt mục tiêu lợi nhuận.
* Ví dụ :
Ở biểu đồ H4 trong hình dưới, một tín hiệu cắt tăng giá xảy ra tại điểm A. Điểm giao cắt nằm phía trong Kumo, nên cường độ tăng giá là trung bình. Chúng ta sẽ đợi cây nến kết thúc và đóng cửa trên Kumo, sau đó ta đặt một lệnh Buy tại điểm B ( ở giá 1.5918 ). Vị trí Stop-loss an toàn trong trường hợp này là phía dưới đường Senkou Span B, tại điểm C ( giá 1.5872 ).

Giá đã tăng liên tục trong khoảng 10 đến 11 ngày. Và vào ngày thứ 15, giá giảm kèm theo Tekan Sen đã cắt trở lại Kijun Sen từ trên xuống, tại điểm D, cho thấy một sự đảo chiều của xu hướng. Và đây cũng chính là thời điểm để đóng giao dịch. Tất toán lệnh ta đã đạt được tổng cộng là 95 pips.
Để giảm thiểu tối đa rủi ro, sau khi giá đã di chuyển được một đoạn đủ xa, ta sẽ dời Stop-Loss đến gần điểm vào. Sau đó, cùng với hướng di chuyển của giá, ta tiếp tục dời Stop-Loss sao cho cách đường Kijun khoảng 5 – 10 pips khi no di chuyển.

2. Giá cắt Kijun Sen

Đây là một chiến lược mang lại hiệu quả cao trong hệ thống chiến lược Ichimoku. Nó có thể được sử dụng hiệu quả gần như trên tất cả các time-frame, mặc dù trên các time-frame nhỏ sẽ ít đáng tin cậy hơn.
* Các tính chất :
– Nếu Kijun Sen cắt đường giá từ dưới lên : giá có thể tăng
– Nếu Kijun Sen cắt đường giá từ trên xuống : giá có thể giảm
Tuy nhiên cần có sự xác nhận của các thành phần khác trong hệ thống.
Nhìn chung, cường độ của tín hiệu có thể được phân thành ba loại chính: mạnh mẽ, trung bình và yếu.
* Tín hiệu mạnh:
– BUY : tín hiệu cắt tăng giá và vị trí giao cắt phía trên Kumo
– SELL : tín hiệu cắt giảm giá và vị trí giao cắt dưới Kumo
* Tín hiệu trung bình :
– BUY : tín hiệu cắt tăng giá và vị trí giao cắt phía trong Kumo
– SELL : tín hiệu cắt giảm giá và vị trí giao cắt trong Kumo
* Tín hiệu yếu:
– BUY : tín hiệu cắt tăng giá và vị trí giao cắt phía dưới Kumo
– SELL : tín hiệu cắt giảm giá và vị trí giao cắt trên Kumo

Giống như chiến lược Tekan/Kijun cắt nhau, các tín hiệu cần có sự xác nhận của Chikou Span :
– Nếu sự giao cắt là tăng giá và Chikou Span phía trên đường giá tại thời điểm đó, thì đây là tín hiệu tăng mạnh.
– Nếu sự giao cắt là giảm giá và Chikou Span phía dưới đường giá tại thời điểm đó, thì đây là tín hiệu giảm mạnh.
– Nếu vị trí giao cắt nằm đối diện với Chikou Span qua đường giá thì đây là một tín hiệu ( tăng/giảm ) yếu.
A. Mở giao dịch
Mở giao dịch ngay tại vị trí giao cắt. Tuy nhiên cần để ý các mức hỗ trợ/ kháng cự gần đó và chỉ nên vào lệnh ở phía trên/dưới ngưỡng đó ( nếu có ).
B.Đóng giao dịch
Thông thường nên đóng giao dịch khi Kijun Sen cắt đường giá theo hướng ngược lại.
C.Điểm dừng lỗ
Do Kijun Sen đóng vai trò như một mức hỗ trợ/ kháng cự mà ngay tại đó, khi tiếp cận nó giá sẽ đạt được trạng thái cân bằng. Vì vậy, các ngưỡng hỗ trợ/ kháng cự cung cấp bởi Kijun Sen là khá vững chắc. Tuy vị trí ( khoảng cách ) điểm dừng lỗ so với điểm vào còn phụ thuộc vào sự biến động ( nhiều hay ít ) của từng thị trường, nhưng 5 – 10 pips từ Kijun Sen vẫn thích hợp cho hầu hết các tình huống.
D.Điểm chốt lời
Khi Kijun Sen cắt đường giá theo hướng ngược lại hoặc khi đã đạt mục tiêu lợi nhuận.
* Ví dụ :
Hãy xem xét biểu đồ D1 trong hình dưới cho cặp tiền USD/CHF, chúng ta có thể thấy một tín hiệu tăng giá xảy ra tại điểm A. Vị trí giao cắt phía trên Kumo nên đây là một tín hiệu tăng mạnh, tuy nhiên Chikou Span ( không hiển thị trên biểu đồ ) vẫn nằm dưới đường giá nên chúng ta sẽ chờ đợi đến khi nó vượt lên và mở giao dịch tại điểm B. Tại thời điểm này, chúng ta có một lợi thế nữa là Tekan Sen cắt Kijun Sen phía trên Kumo tại điểm C, càng củng cố thêm cho xu hướng giá tăng mạnh mẽ.

Về vị trí dừng lỗ, áp dụng lý thuyết trên ta sẽ đặt tại điểm C, cách Kijun Sen 10 pips.
Sau khi giá tăng ta tiếp tục di chuyển Stop-Loss theo hướng giá sao cho luôn cách Kijun Sen ở phía đối diện một khoảng là 10pips.
Giá tiếp tục tăng khoảng 40 ngày sau đó và luôn nằm phía trên Kijun Sen. Đến ngày thứ 44, giá bắt đầu giảm, cắt qua Kijun Sen và hit Stop-Loss của chúng ta tại điểm D. Tất toán lệnh ta đạt được lợi nhuận là 641 pips.

3. Kumo Breakout

Kumo Breakout hay còn gọi là Kumo Trading, là một chiến lược giao dịch có thể được sử dụng trên đa khung thời gian, tuy nhiên nó sẽ phát huy tối đa hiệu quả nếu sử dụng trên các khung thời gian cao hơn như D1, W1, 1MN.
Kumo Breakout là chiến lược giao dịch đơn giản nhất bên trong hệ thống Ichimoku, bởi ta chỉ xét vị trí tương đối giữa nó với đường giá : tín hiệu Buy khi giá phá vỡ và đóng cửa phía trên Kumo, tín hiệu Sell khi giá phá vỡ và đóng cửa dưới Kumo.

A. Mở giao dịch
Mở giao dịch khi giá đóng cửa trên/dưới kumo, theo hướng breakout. Tuy nhiên, cần đảm rằng vị trí breakout không xuất phát từ một Flat top/bottom Kumo ( có khuynh hướng thu hút giá về phía nó ). Ngoài ra, cũng cần phải có sự xác nhận của Chikou Span, các mức hỗ trợ / kháng cự cũng như hướng giao cắt của Senkou Span A và Senkou Span B ( nếu có ).
B. Đóng giao dịch
Training stop là một kỹ thuật phổ biến trong giao dịch forex. Và ở đây, chúng ta sẽ đóng giao dịch khi giá có xu hướng đảo chiều ( có thể là breakout theo hướng ngược lại ) hoặc hit stoploss. ( khi sử dụng kỹ thuật training stop ) hoặc đã đạt mục tiêu.
C. Điểm dừng lỗ
Trong chiến lược Kumo Breakout, điểm dừng lỗ phải được đặt ở phía đối diện bên ngoài Kumo, cách đường bao kumo từ 10 – 20 pips.
D. Điểm chốt lời
Xem B. Đóng giao dịch
* Ví dụ :
Trong biểu đồ Weekly ( cặp AUD/USD ) như hình dưới, chúng ta có thể thấy một Bearish kumo breakout tại điểm A. Chúng ta cũng thấy rằng Senkou Span A cắt Senkou Span B từ trên xuống, như một sự xác nhận cho xu hướng giảm. Tuy nhiên, vị trí breakout lại xuất phát từ một Flat bottom kumo, và bên dưới có một mức hỗ trợ cung cấp bởi Chikou Span tại giá 0.7597. Cho nên, chúng ta hãy đợi và chỉ vào lệnh ( Sell ) khi giá phá vỡ và đóng cửa dưới mức hỗ trợ này ( điểm B ).

Về vị trí Stoploss, chúng ta sẽ đặt tại điểm C ( 0.7994 ), cách Senkou Span A khoảng 20 pips, cũng là phía trên đỉnh gần nhất. Và như vậy, khi giá tiếp tục giảm được một đoạn, chúng ta sẽ sử dụng kỹ thuật training stop – dời stoploss theo hướng di chuyển của giá.
Do chúng ta sử dụng biểu đồ Weekly, giao dịch theo xu hướng dài hạn. Trong trường hợp này, gần 2 năm sau đó, giá đã tăng lên và phá vỡ kumo theo hướng ngược lại tại điểm D, và đây cũng là thời điểm để đóng lệnh Sell trước đó ( đạt gần 1.100 pips ).

4. Senkou Span Cross ( giao cắt giữa 2 đường Senkou )

Senkou Span Cross là một kỹ thuật ít được biết đến trong hệ thống giao dịch Ichimoku, bởi đa số đều chỉ xem nó như một tín hiệu xác nhận cho xu hướng. Tuy nhiên, dù sao nó cũng là một chiến lược độc đáo mà các nhà đầu tư không thể bỏ qua.
Cũng như chiến lược giao dịch dựa trên Kumo breakout, chiến lược dựa trên sự giao cắt giữa 2 đường Senkou sẽ chỉ phát huy hiệu quả cao nhất khi sử dụng trên những khung thời gian cao hơn, như biểu đổ Daily, Weekly,…
* Các tính chất :
– Nếu Senkou Span A cắt Senkou Span B từ dưới lên : giá có thể tăng
– Nếu Senkou Span A cắt Senkou Span B từ trên xuống : giá có thể giảm
Tuy nhiên cần có sự xác nhận của các thành phần khác trong hệ thống.
Nhìn chung, cường độ của tín hiệu có thể được phân thành ba loại chính: mạnh mẽ, trung bình và yếu.
* Tín hiệu mạnh: khi đường giá nằm ngoài kumo và ở cùng hướng với hướng giao cắt
* Tín hiệu trung bình : khi đường giá nằm trong kumo tại thời điểm giao cắt
* Tín hiệu yếu: khi đường giá nằm ngoài kumo nhưng ở hướng ngược lại với hướng giao cắt
Như biểu đồ ở hình dưới, các đường kẻ dọc đại diện cho mối quan hệ giữa giá và vị trí giao cắt giữa 2 đường Senkou ( trong 26 phiên ). Và như các bạn thấy, điểm A đại diện cho một tín hiệu giao cắt tăng giá, và đây là một tín hiệu tăng mạnh do đường giá nằm phía trên kumo tại điểm B. Tương tự, điểm C đại diện cho một tín hiệu cắt giảm giá, và đây cũng là một tín hiệu giảm mạnh do đường giá nằm dưới Kumo ( cùng hướng với hướng giao cắt ) tạo điểm D. Sự giao cắt tại điểm E lại là một tín hiệu tăng giá trung bình do đường giá tại điểm F nằm phía trong Kumo.

A. Mở giao dịch
Điểm vào cho chiến lược sử dụng sự giao cắt giữa 2 đường Senkou cũng tương đối đơn giản. Đầu tiên các nhà đầu tư sẽ quan sát các biểu đồ ở khung thời gian cao hơn để xác định xu hướng dài hạn, sau đó, họ sẽ mở các biều đồ thấp hơn và chờ đợi cho đến khi có một tín hiệu giao cắt có cùng hướng với xu hướng dài hạn và tiến hành mở giao dịch. Tuy nhiên, cần xem xét vị trí tương đối giữa đường giá và Kumo, cũng như sự xác nhận của các thành phần khác trong hệ thống để có được kết quả tối ưu nhất.
B. Đóng giao dịch
Đóng giao dịch khi có tín hiệu giao cắt giữa 2 đường Senkou theo hướng ngược lại hoặc xuất hiện các tín hiệu khác bất lợi hay đã đạt mục tiêu.
C. Điểm dừng lỗ
Điểm dừng lỗ phải được đặt ở phía đối diện bên ngoài Kumo, cách đường bao kumo từ 10 – 20 pips.
D. Điểm chốt lời
Xem B. Đóng giao dịch
* Ví dụ :
Ở biểu đồ Daily ( cặp USD/CAD ) như hình dưới, chúng ta có thể thấy một tín hiệu giao cắt giảm giá giữa 2 đường Senkou tại điểm A. Tại thời điểm này giá phá vỡ và đóng cửa bên dưới Kumo tại điểm B ( bên ngoài và cùng hướng với hướng giao cắt ), nên đây sẽ là một tín hiệu giảm mạnh. ( Cho rằng trên biểu đồ Weekly và Monthly cũng xác nhận xu hướng này.)

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tại điểm B xuất hiện Flat bottom kumo ( có khuynh hướng thu hút giá về phía nó ) và một mức hỗ trợ bên dưới cung cấp bởi Chikou Span tại giá 1.2290. Do vậy, chúng ta sẽ chờ đợi đến khi giá phá vỡ và đóng cửa dưới mức này và đặt một lệnh Sell tại điểm C.
Về điểm dừng lỗ, ta sẽ đặt tại phía đối diện của Kumo cách đường Senkou Span A khoảng 20pips tại điểm D.
Hơn 4 tháng sau, Senkou Span A và Senkou Span B cắt nhau một lần nữa theo hướng ngược lại tại điểm E, và đây cũng là thới điểm để đóng giao dịch này ( đạt trên 380 pips ).

5. Chikou Span Cross ( giao cắt giữa đường giá và Chikou Span )

Chikou Span thường được dùng như một công cụ để xác nhận xu hướng trong hệ thống Ichimoku. Tuy nhiên, việc sử dụng Chikou Span như một chiến lược độc lập cũng mang lại những kết quả rất khả quan.
* Các tính chất :
– Nếu Chikou Span cắt đường giá từ dưới lên : giá có thể tăng
– Nếu Chikou Span cắt đường giá từ trên xuống : giá có thể giảm
Giống như các thành phần khác trong hệ thống Ichimoku, sự giao cắt giữa Chikou Span với đường giá trong mối quan hệ với Kumo cũng được chia thành 3 cường độ tín hiệu chính :
* Tín hiệu mạnh:
– BUY : tín hiệu cắt tăng giá và giá hiện hành nằm phía trên Kumo
– SELL : tín hiệu cắt giảm giá và giá hiện hành nằm phía dưới Kumo
* Tín hiệu trung bình :
– BUY : tín hiệu cắt tăng giá và giá hiện hành nằm phía trong Kumo
– SELL : tín hiệu cắt giảm giá và giá hiện hành nằm phía trong Kumo
* Tín hiệu yếu:
– BUY : tín hiệu cắt tăng giá và giá hiện hành nằm phía dưới Kumo
– SELL : tín hiệu cắt giảm giá và giá hiện hành nằm phía trên Kumo
Biểu đồ trong hình dưới cung cấp nhiều tín hiệu giao cắt giữa Chikou Span với đường giá.
Điểm A1 là điểm mà tại đó Chikou Span cắt đường giá, điểm A2 ( giá hiện hành ) là một cây nến đóng cửa trong một xu hướng giảm. Tuy nhiên, điểm A2 lại nằm trên Kumo nên tín hiệu giảm giá là yếu. Một tín hiệu tăng mạnh có thể được thấy tại điểm B1 B2, nơi Chikou Span cắt đường giá từ dưới lên ( B1 ) và giá hiện hành ( B2 ) đóng cửa trên Kumo. Điểm C1 C2 cũng đại diện cho xu hướng giảm yếu khi vị trí giao cắt và giá hiện hành đều phía trên Kumo.

A. Mở giao dịch
Sau khi xem xét vị trí tương đối giữa đường giá và Kumo để xác định cường độ của tín hiệu, cũng như quan sát các biểu đồ lớn hơn nhằm tìm kiếm một sự xác nhận của xu hướng, nhà đầu tư sẽ mở giao dịch ngay tại vị trí giao cắt giữa Chikou Span với đường giá.
B. Đóng giao dịch
Hầu hết các nhà đầu tư sẽ đóng giao dịch khi Chikou Span cắt đường giá một lần nữa theo hướng ngược lại, hoặc khi đã đạt mục tiêu.
C. Điểm dừng lỗ
Chiến lược sử dụng kỹ thuật giao cắt giữa Chikou Span và đường giá không có bất kỳ một quy tắc đặt điểm dừng lỗ nào như một số chiến lược khác. Thay vào đó nhà đầu tư cần xác định các mức cản quan trọng cũng như kỹ năng quản lý vốn để đặt điểm dừng lỗ.
D. Điểm chốt lời
Xem B.Đóng giao dịch
* Ví dụ :
Trong biểu đồ Daily ( cặp USD/CHF ) như hình dưới, chúng ta có thể thấy một tín hiệu cắt tăng giá tại điểm A. Tuy đây là một tín hiệu tăng mạnh ( giá hiện hành nằm trên Kumo ), nhưng Chikou Span vẫn còn nằm bên dưới mức kháng cự của chính nó tại 1.2090. Thêm vào đó, Tekan Sen và Kijun Sen Flat, nên không cung cấp bất kỳ một tín hiệu xác nhận nào. Vì vậy, chúng ta hãy đợi.
Và sang ngày thứ 5, Chikou Span cắt đường giá một lần nữa tại điểm B1, chúng ta sẽ đợi cây nến của ngày hôm đó kết thúc và vào một lệnh Buy tại điểm B2 ( 1.2164 ), vì khi đó đã có tín hiệu xác nhận từ sự giao cắt tăng giá từ Tekan Sen và Kijun Sen.

Dựa vào tình hình thực tế trên biểu đồ, chúng ta sẽ đặt điểm Stoploss bên dưới Kijun Sen tại giá 1.1956, và tiến hành dời Stoploss theo hướng di chuyển của giá, sao cho luôn nằm dưới Kijun Sen khoảng 5 – 10pips.
Và 2 tháng sau, sau khi giá đã tăng trên 560 pips ( C2 ), Chikou Span cắt đường giá một lần nữa theo hướng ngược lại tại điểm C1. ( đạt 450 pips lợi nhuận ).
* Lời kết :
Ichimoku Kinko Hyo là một hệ thống lớn tương đối phức tạp và không dễ cảm nhận, do đó, cần vận dụng các chiến lược vào thực tế một cách linh hoạt và tuân thủ tuyệt đối các quy tắc giao dịch cũng như kỹ năng quản lý vốn nhằm hạn chế rủi ro một cách thấp nhất có thể.

PTKT Động Lượng – Hệ thống giao dịch Ichimoku kinko hyo ( Học Forex 247 )

Xem thêm:

1. Tenkan Sen : đường tín hiệu

Tenkan-Sen = Conversion Line = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 9 phiên
Trong khi nhiều người xem Tekan Sen như một đường trung bình đơn giản SMA9 của giá đóng cửa, thì thực ra nó lại được tính toán dựa trên tỷ lệ trung bình của giá cao nhất và thấp nhất cho 9 phiên.
Xem xét biểu đồ dưới đây:


Hình 1 – Tenkan Sen vs. 9 Period SMA

Như có thể thấy trên biểu đồ, Tekan Sen thường “Flat” hơn so với SMA9. Thực tế này là bởi vì Tekan Sen được tính theo trung bình của giá cao nhất và thấp nhất chứ không phải trung bình của giá đóng cửa.
Ngoài ra, Tekan Sen cũng cho nhiều mức hỗ trợ vững chắc hơn so với SMA9 : tại vùng đánh dấu ( màu vàng ), giá không vượt qua được Tekan Sen trong khi nó đã phá vỡ và xuyên qua SMA9.
Trong một xu hướng giảm giá, Tekan Sen sẽ đóng vai trò như một mức kháng cự.
Các góc của Tekan Sen ( so với giá ) cũng có thể cho chúng ta một ý tưởng :  Một Tekan Sen dốc góc cạnh sẽ cho biết giá tăng gần như thẳng đứng trong một thời gian ngắn hoặc động lực mạnh mẽ, trong khi một Tekan Sen phẳng ( Flat Tekan Sen ) sẽ cho biết động lực thấp hoặc không có động lực khoảng thời gian tương tự.
Tekan Sen đo lường biến động giá trong một xu hướng ngắn hạn, và cho tín hiệu sớm nhất nên cũng vì vậy mà nó kém tin cậy nhất trong 5 đường của hệ thống Ichimoku. Tuy nhiên, khi giá vi phạm Tekan Sen có thể cho một dấu hiệu ban đầu của một sự thay đổi xu hướng, dù vậy, giống như tất cả các tín hiệu khác, điều này cần phải được xác nhận bởi các thành phần khác trước khi đưa ra quyết định kinh doanh.
Một trong những ứng dụng chính của Tekan Sen chính là sự giao cắt của nó qua Kijun Sen.
Nếu Tekan Sen cắt Kijun Sen từ dưới lên, thì đó là một tín hiệu tăng giá. Tương tự, nếu Tekan Sen cắt Kijun Sen từ trên xuống, đó là một tín hiệu giảm giá.

2.Kijun Sen : đường xu hướng

Kijun-Sen = Base Line = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 26 phiên
Kijun Sen là một chỉ báo rất quan trọng trong hệ thống Ichimoku và nó có rất nhiều ứng dụng. Giống như Tekan Sen, Kijun Sen được tính dựa trên trung bình của giá cao nhất và thấp nhất, nhưng cho 26 phiên (khung thời gian dài hơn). Do vậy, Kijun Sen cũng mang tất cả các tính chất của Tekan Sen.
Ngoài ra, do được tính trên một khoảng thời gian dài hơn, nên tín hiệu được cho bởi Kijun Sen trở nên vững chắc và đáng tin cậy hơn so với Tekan Sen .
Một khi giá vượt quá một trong hai điểm cao nhất hoặc thấp nhất ( trong 26 phiên ), Kijun Sen sẽ phản ánh bằng cách câu lên hoặc xuống tương ứng. Như vậy, xu hướng ngắn hạn có thể được xác định bởi hướng của Kijun Sen. Ngoài ra, các góc độ tương đối của Kijun Sen ( so với đường giá ) sẽ cho biết sức mạnh hay động lực của xu hướng này.
Sự cân bằng về giá được thể hiện bởi Kijun Sen trên biểu đồ cũng chính xác hơn so với Tekan Sen. Do đó, các mức hỗ trợ và kháng cự được cho bởi Kijun Sen cũng đáng tin cậy hơn (xem những vùng được đánh dấu trong hình II dưới đây).

Hình 2 – Kijun Sen Support

Khi giá di chuyển quá xa và quá nhanh trong một thời gian ngắn ( mất cân bằng ) , nó có khuynh hướng quay trở lại Kijun Sen. Do đó, Kijun Sen được ví như “ trung tâm của lực hấp dẫn “ – thu hút giá về chính nó và đưa giá trở lại trạng thái cân bằng.
Hiện tượng này đặc biệt rõ ràng khi Kijun Sen là phẳng ( Flat ) hoặc trendless, như có thể thấy trong hình III dưới đây:


3. Chikou Span: đường trễ

Chikou Span = Lagging Span = Giá đóng cửa hôm nay, được vẽ cho 26 phiên sau
Chikou Span đại diện cho một trong những tính năng độc đáo nhất của hệ thống Ichimoku, biểu thị giá đóng cửa hiện tại là thời gian chuyển dịch ngược về 26 phiên đã qua – cho chúng ta một cái nhìn toàn diện hơn về hành động giá, có thể giúp xác định xu hướng sắp tới.
Nếu giá đóng cửa hiện tại ( được mô tả bởi Chikou Span ) thấp hơn so với giá của 26 phiên trước đây, nhiều khả năng giá sẽ giảm.
Ngược lại, nếu giá đóng cửa hiện tại cao hơn mức giá của 26 phiên trước đây, nhiều khả năng giá sẽ tăng.
Xem xét các biểu đồ trong hình IV và V dưới đây:

Hình 4 : Chikou Span trong một xu hướng tăng giá
Hình 5 : Chikou Span trong một xu hướng giảm giá

Ngoài việc cho chúng ta xác định các khả năng tăng/giảm của giá, Chikou Span cũng cung cấp các mức độ hỗ trợ và kháng cự ( có thể vẽ đường nằm ngang qua điểm được tạo ra bởi Chikou Span để xem các cấp chính và sử dụng chúng trong phân tích )
Xem hình VI dưới đây:

Hình 6 : Các mức hỗ trợ và kháng cự được cho bởi Chikou Span

4. Senkou Span A

Senkou Span A = Leading Span A = (Tenkan-Sen + Kijun-Sen) / 2, được vẽ cho 26 phiên đầu
Senkou Span A là thành phần nổi bật nhất, cùng với Senkou Span B tạo thành mây “ Kumo “ hay còn gọi là “ Ichimoku Cloud “ – nền tảng của hệ thống Ichimoku.
Senkou Span A được tính toán dựa trên tỉ lệ trung bình của Tekan Sen và Kijun Sen ( trong 26 phiên ) và được thể hiện trên biểu đồ bằng cách chuyển dịch về phía trước 26 phiên.


Giá cả có xu hướng tôn trọng các mức hỗ trợ và kháng cự, như vậy, việc biểu diễn ( vẽ ) Senkou Span A bằng cách chuyển dịch về phía trước 26 phiên sẽ giúp chúng ta nhanh chóng nhìn thấy các mức hỗ trợ và kháng cự từ 26 phiên trước (1 tháng cách đây trên một biểu đồ hàng ngày) so với giá hiện tại.

5. Senkou Span B

Senkou Span B = Leading Span B = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 52 phiên, được vẽ cho 26 phiên đầu.
Senkou Span B cũng là thành phần nổi bật nhất, cùng với Senkou Span A tạo thành mây “ Kumo “ hay còn gọi là “ Ichimoku Cloud “ – nền tảng của hệ thống Ichimoku.
Senkou Span B đại diện cho một cái nhìn dài hạn nhất về trạng thái cân bằng của giá trong hệ thống Ichimoku. Thay vì chỉ xem xét 26 phiên cuối ( 1 tháng cuối ) dựa trên trung bình của Tekan Sen và Kijun Sen ( Senkou Span A ), Senkou Span B được tính toán dựa trên trung bình của giá cao nhất và thấp nhất của 52 phiên ( 2 tháng cuối ) , được biểu diễn ( vẽ ) trên biểu đồ bằng cách chuyển dịch về phía trước 26 phiên, như Senkou Span A. Điều này sẽ giúp các nhà đầu tư có được một cái nhìn toàn diện hơn về sự cân bằng của giá, giúp họ xác định các chiến lược kinh doanh tương lai.

1. Tenkan Sen : đường tín hiệu

Tenkan-Sen = Conversion Line = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 9 phiên
Trong khi nhiều người xem Tekan Sen như một đường trung bình đơn giản SMA9 của giá đóng cửa, thì thực ra nó lại được tính toán dựa trên tỷ lệ trung bình của giá cao nhất và thấp nhất cho 9 phiên.
Xem xét biểu đồ dưới đây:


Hình 1 – Tenkan Sen vs. 9 Period SMA

Như có thể thấy trên biểu đồ, Tekan Sen thường “Flat” hơn so với SMA9. Thực tế này là bởi vì Tekan Sen được tính theo trung bình của giá cao nhất và thấp nhất chứ không phải trung bình của giá đóng cửa.
Ngoài ra, Tekan Sen cũng cho nhiều mức hỗ trợ vững chắc hơn so với SMA9 : tại vùng đánh dấu ( màu vàng ), giá không vượt qua được Tekan Sen trong khi nó đã phá vỡ và xuyên qua SMA9.
Trong một xu hướng giảm giá, Tekan Sen sẽ đóng vai trò như một mức kháng cự.
Các góc của Tekan Sen ( so với giá ) cũng có thể cho chúng ta một ý tưởng :  Một Tekan Sen dốc góc cạnh sẽ cho biết giá tăng gần như thẳng đứng trong một thời gian ngắn hoặc động lực mạnh mẽ, trong khi một Tekan Sen phẳng ( Flat Tekan Sen ) sẽ cho biết động lực thấp hoặc không có động lực khoảng thời gian tương tự.
Tekan Sen đo lường biến động giá trong một xu hướng ngắn hạn, và cho tín hiệu sớm nhất nên cũng vì vậy mà nó kém tin cậy nhất trong 5 đường của hệ thống Ichimoku. Tuy nhiên, khi giá vi phạm Tekan Sen có thể cho một dấu hiệu ban đầu của một sự thay đổi xu hướng, dù vậy, giống như tất cả các tín hiệu khác, điều này cần phải được xác nhận bởi các thành phần khác trước khi đưa ra quyết định kinh doanh.
Một trong những ứng dụng chính của Tekan Sen chính là sự giao cắt của nó qua Kijun Sen.
Nếu Tekan Sen cắt Kijun Sen từ dưới lên, thì đó là một tín hiệu tăng giá. Tương tự, nếu Tekan Sen cắt Kijun Sen từ trên xuống, đó là một tín hiệu giảm giá.

2.Kijun Sen : đường xu hướng

Kijun-Sen = Base Line = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 26 phiên
Kijun Sen là một chỉ báo rất quan trọng trong hệ thống Ichimoku và nó có rất nhiều ứng dụng. Giống như Tekan Sen, Kijun Sen được tính dựa trên trung bình của giá cao nhất và thấp nhất, nhưng cho 26 phiên (khung thời gian dài hơn). Do vậy, Kijun Sen cũng mang tất cả các tính chất của Tekan Sen.
Ngoài ra, do được tính trên một khoảng thời gian dài hơn, nên tín hiệu được cho bởi Kijun Sen trở nên vững chắc và đáng tin cậy hơn so với Tekan Sen .
Một khi giá vượt quá một trong hai điểm cao nhất hoặc thấp nhất ( trong 26 phiên ), Kijun Sen sẽ phản ánh bằng cách câu lên hoặc xuống tương ứng. Như vậy, xu hướng ngắn hạn có thể được xác định bởi hướng của Kijun Sen. Ngoài ra, các góc độ tương đối của Kijun Sen ( so với đường giá ) sẽ cho biết sức mạnh hay động lực của xu hướng này.
Sự cân bằng về giá được thể hiện bởi Kijun Sen trên biểu đồ cũng chính xác hơn so với Tekan Sen. Do đó, các mức hỗ trợ và kháng cự được cho bởi Kijun Sen cũng đáng tin cậy hơn (xem những vùng được đánh dấu trong hình II dưới đây).

Hình 2 – Kijun Sen Support

Khi giá di chuyển quá xa và quá nhanh trong một thời gian ngắn ( mất cân bằng ) , nó có khuynh hướng quay trở lại Kijun Sen. Do đó, Kijun Sen được ví như “ trung tâm của lực hấp dẫn “ – thu hút giá về chính nó và đưa giá trở lại trạng thái cân bằng.
Hiện tượng này đặc biệt rõ ràng khi Kijun Sen là phẳng ( Flat ) hoặc trendless, như có thể thấy trong hình III dưới đây:


3. Chikou Span: đường trễ

Chikou Span = Lagging Span = Giá đóng cửa hôm nay, được vẽ cho 26 phiên sau
Chikou Span đại diện cho một trong những tính năng độc đáo nhất của hệ thống Ichimoku, biểu thị giá đóng cửa hiện tại là thời gian chuyển dịch ngược về 26 phiên đã qua – cho chúng ta một cái nhìn toàn diện hơn về hành động giá, có thể giúp xác định xu hướng sắp tới.
Nếu giá đóng cửa hiện tại ( được mô tả bởi Chikou Span ) thấp hơn so với giá của 26 phiên trước đây, nhiều khả năng giá sẽ giảm.
Ngược lại, nếu giá đóng cửa hiện tại cao hơn mức giá của 26 phiên trước đây, nhiều khả năng giá sẽ tăng.
Xem xét các biểu đồ trong hình IV và V dưới đây:

Hình 4 : Chikou Span trong một xu hướng tăng giá
Hình 5 : Chikou Span trong một xu hướng giảm giá

Ngoài việc cho chúng ta xác định các khả năng tăng/giảm của giá, Chikou Span cũng cung cấp các mức độ hỗ trợ và kháng cự ( có thể vẽ đường nằm ngang qua điểm được tạo ra bởi Chikou Span để xem các cấp chính và sử dụng chúng trong phân tích )
Xem hình VI dưới đây:

Hình 6 : Các mức hỗ trợ và kháng cự được cho bởi Chikou Span

4. Senkou Span A

Senkou Span A = Leading Span A = (Tenkan-Sen + Kijun-Sen) / 2, được vẽ cho 26 phiên đầu
Senkou Span A là thành phần nổi bật nhất, cùng với Senkou Span B tạo thành mây “ Kumo “ hay còn gọi là “ Ichimoku Cloud “ – nền tảng của hệ thống Ichimoku.
Senkou Span A được tính toán dựa trên tỉ lệ trung bình của Tekan Sen và Kijun Sen ( trong 26 phiên ) và được thể hiện trên biểu đồ bằng cách chuyển dịch về phía trước 26 phiên.


Giá cả có xu hướng tôn trọng các mức hỗ trợ và kháng cự, như vậy, việc biểu diễn ( vẽ ) Senkou Span A bằng cách chuyển dịch về phía trước 26 phiên sẽ giúp chúng ta nhanh chóng nhìn thấy các mức hỗ trợ và kháng cự từ 26 phiên trước (1 tháng cách đây trên một biểu đồ hàng ngày) so với giá hiện tại.

5. Senkou Span B

Senkou Span B = Leading Span B = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 52 phiên, được vẽ cho 26 phiên đầu.
Senkou Span B cũng là thành phần nổi bật nhất, cùng với Senkou Span A tạo thành mây “ Kumo “ hay còn gọi là “ Ichimoku Cloud “ – nền tảng của hệ thống Ichimoku.
Senkou Span B đại diện cho một cái nhìn dài hạn nhất về trạng thái cân bằng của giá trong hệ thống Ichimoku. Thay vì chỉ xem xét 26 phiên cuối ( 1 tháng cuối ) dựa trên trung bình của Tekan Sen và Kijun Sen ( Senkou Span A ), Senkou Span B được tính toán dựa trên trung bình của giá cao nhất và thấp nhất của 52 phiên ( 2 tháng cuối ) , được biểu diễn ( vẽ ) trên biểu đồ bằng cách chuyển dịch về phía trước 26 phiên, như Senkou Span A. Điều này sẽ giúp các nhà đầu tư có được một cái nhìn toàn diện hơn về sự cân bằng của giá, giúp họ xác định các chiến lược kinh doanh tương lai.

PTKT Động Lượng – Chỉ số MACD – Moving Average Convergence-Divergence ( Học Forex 247 )

PTKT Động Lượng – Chỉ số MACD – Moving Average Convergence-Divergence ( Học Forex 247 )

1. Đường MACD: EMA (12): Đường trung bình giá trong 12 phiên gần nhất
Trừ EMA (26): Đường trung bình giá trong 26 phiên gần nhất
2.
Đường tín hiệu MACD: là đường EMA (9) của đường MACD
3.
Đường biểu đồ MACD: là MACD trừ đi đường tín hiệu MACD


Chỉ báo MACD là công cụ rất có hiệu quả và nhiều tác dụng. Có 3 cách chính khi sử dụng chỉ báo MACD:
– Sự giao cắt của đường trung bình giá.
– Biểu đồ MACD
– Sự phân kỳ của MACD

MACD và sự giao cắt của đường trung bình giá(MA)


Phương pháp sử dụng đầu tiên này là sự nghiên cứu hiện tượng giao cắt của các đường trung bình giá.


– Khi đường trung bình ngắn hạn EMA (12) cắt và nằm trên đường trung bình dài hạn EMA (26), điều này tương đương với đường MACD cắt và nằm trên đường zero.
– Khi đường trung bình ngắn hạn EMA (12) cắt và nằm phía dưới đường trung bình dài hạn EMA (26), điều này tương đương với MACD cắt và nằm phía dưới đường zero.

Tín hiệu mua: Tín hiệu mua xuất hiện khi đường MACD cắt và nằm phía trên đường zero.
Tín hiệu bán: Khi MACD cắt và nằm phía dưới đường zero thì tín hiệu bán xuất hiện

Những tín hiệu cảnh báo này thường xuất hiện rất trễ. Nếu sử dụng sự giao cắt của đường tín hiệu và đường MACD thì tín hiệu mua bán sẽ xuất hiện sớm và nhanh hơn.

Tín hiệu mua: Xuất hiện khi đường MACD cắt và nằm phía trên đường tín hiệu của MACD.
Tín hiệu bán: xuất hiện khi đường MACD cắt và nằm phía dưới đường tín hiệu của MACD.

MACD và sự giao cắt của các đường trung bình là một trong những cách sử dụng kỹ thuật chỉ báo MACD. Sử dụng biểu đồ MACD và sự phân kỳ của MACD là 2 phương pháp quan trọng để đưa ra những cảnh báo đảo chiều.

Biểu đồ MACD


Biểu đồ MACD là 1 dạng khá đơn giản, nó nói lên sự khác biệt giữa đường MACD và đường tín hiệu của MACD



Có 2 điều quan trọng nằm trong biểu đồ MACD:

Hội tụ: Biểu đồ MACD co rút lại, điều này mang ý nghĩa là có sự thay đổi hướng đi của đường giá đang chậm lại. Đường MACD có khuynh hướng tiến gần với đường tín hiệu của MACD.
Phân kỳ: Biểu đồ MACD giãn ra hoặc là tăng độ cao(không kể chiều âm hay dương), điều này mang ý nghĩa làm cho hướng đi của xu hướng giá tăng lên nhanh và chắc chắn.
Khi đường giá di chuyển theo xu hướng giá một cách mạnh mẽ thì biểu đồ MACD sẽ tăng độ cao. Khi biểu đồ MACD không tăng độ cao nữa hoặc nó bắt đầu co rút lại thì thị trường lúc đó có khuynh hướng suy giảm nhẹ và cảnh báo có nhiều khả năng đường giá sẽ có đảo chiều trong thời gian sắp tới.

Tín hiệu mua: Khi biểu đồ MACD nằm dưới đường zero và bắt đầu hội tụ về hướng đường zero.
Tín hiệu bán: Khi biểu đồ MACD nằm trên đường zero và bắt đầu hội tụ về hướng đường zero.

Lưu ý: Biểu đồ MACD không chỉ cho ra các tín hiệu mua bán khá chắc chắn mà còn được sử dụng cho việc cảnh báo khả năng thay đổi hướng đi của đường giá.

Sự Phân Kỳ của MACD

Như chúng ta đã nói trong bài học trước, đường chỉ dẫn MACD được sử dụng để xác định xu hướng và động lượng của xu hướng, do vậy, MACD được sử dụng tốt khi thị trường có xu hướng rõ ràng và nên tránh sử dụng khi xu hướng chưa được xác lập.

Ví dụ về việc dùng MACD xác định thị trường có xu hướng hay không xu hướng :

macd-trending-nontrending

Khi quyết định vào hay thoát khỏi thị trường, bạn cần phân tích những đặc điểm của xu hướng đang xảy ra, các bạn có thể sử dụng MACD với 3 cách sau :

1. Sử dụng phân kỳ – Divergence (sự đi trệch hướng).
2. Khi 2 đường MACD và đường Signal cắt nhau.
3. Khi có tín hiệu MACD cắt qua đường 0 (zero)

Giao dịch theo dấu hiệu phân kỳ của MACD:

Sự phân kỳ xảy ra khi hướng của MACD di chuyển không cùng với hướng của biểu đồ tỉ giá. Khi có dấu hiệu này, nhà giao dịch sẽ chờ đợi 1 sự đổi chiều xu hướng, dấu hiệu chỉ ra càng rõ ràng khi biểu đồ giá vẫn tiếp tục tạo thêm những đỉnh giá cao hơn trong khi MACD thì lại tạo ra những đỉnh giá thấp hơn (hoặc ngược lại).

Ví dụ về MACD phân kỳ

macd-negative-divergence

Giao dịch theo MACD cắt nhau

Đây là cách đơn giản nhất để sử dụng MACD, BUY khi đường MACD từ dưới cắt vượt lên trên đường Signal và SELL khi đường MACD từ trên cắt xuống dưới đường Signal. Cách chơi này sẽ cho bạn rất nhiều dấu hiệu vào thị trường và trong đó cũng có nhiều dấu hiệu sai. Do vậy nếu chỉ sử dụng 1 mình MACD theo phương pháp này thì nguy cơ đối mặt với những giao dịch tồi là khá cao. Ví lí do đó, các nhà giao dịch thường sử dụng kết hợp MACD với các phương pháp khác như chart pattern ( các mô hình biểu đồ, chúng tôi sẽ giới thiệu về chart pattern trong những bài học tiếp theo) , khối lượng giao dịch…

Ví dụ về sử dụng đường MACD cắt nhau cho tín hiệu BUY và SELL

macd-crossover

MACD cắt đường Zero:
Khi hiện tượng đường MACD cắt lên hay cắt xuống qua đường zero 0, nó chỉ ra tín hiệu của sự đổi hướng.

Ví dụ về sự lên , xuống của thị trường khi MACD cắt đường Zero

macd-zero-line

Để có kết quả tốt, thông thường chúng ta sẽ kết hợp MACD với một số đường tín hiệu khác mà chúng tôi sẽ giới thiệu đến các bạn trong những phần sau .

PTKT Động Lượng – Chỉ số MACD – Moving Average Convergence-Divergence ( Học Forex 247 )